[Review] Sách: Kinh tế học thời khó nhọc – Good Economics for Hard Times by Abhijit V.Banerjee & Esther Duflo

Kinh Tế Học Thời Khó Nhọc – Abhijit V. Banerjee; Esther Duflo

Trong thời gian gần đây, với việc Donald Trump tái đắc cử tổng thống Mỹ, cả thế giới lại được một phen nóng sốt với hai vấn đề cực kì nổi cộm, ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế – chính trị – xã hội: đó là vấn đề nhập cư và thương mại tự do. Ngay khi Trump lên nắm chính quyền, ông đã lập tức ký sắc lệnh trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp vào Mỹ, đồng thời lên tiếng đe dọa tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng nhập khẩu từ nước khác, đặc biệt là Trung Quốc, Canada, và Mexico.

Khi theo dõi các ý kiến tranh cãi xoay quanh quyết sách này, mình không khỏi nhớ đến một quyển sách rất hay mà mình từng đọc. Cuốn sách có tựa đề: “Good economics for hard times” – Kinh tế học thời khó nhọc. Phải nói rằng, đây là một quyển sách có tính thời sự rất cao, và nhờ nó mà mình có thể lý giải thấu đáo hơn những căng thẳng đang diễn ra ở Mỹ nói riêng và trên thế giới nói chung ngày hôm nay.

Quyển sách được viết bởi hai nhà kinh tế học đạt giải Nobel là Abhijit Banerjee and Esther Duflo, nhưng lại không mang nặng tính hàn lâm học thuật, mà khá dễ tiếp cận với đa số người đọc phổ thông. Nói là vậy nhưng mình cũng không cho đây là một cuốn sách nhẹ đầu, bạn vẫn cần thật sự tập trung để nắm bắt mạch luận điểm của tác giả, và gần như từng câu mà tác giả viết ra đều đáng để ghi chú lại (ít nhất là đối với mình). 

Cuốn sách tập trung xoay quanh những thách thức kinh tế lớn nhất ngày nay, như là nhập cư, thương mại, tự động hóa, bất bình đẳng xã hội và tăng trưởng kinh tế. Trong đó, tác giả muốn dùng những nghiên cứu thực chứng của mình để xóa bỏ các định kiến sai lầm mà mọi người thường có, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng thay vì biến nó thành những diễn ngôn chính trị để dẫn dắt dư luận.

Mặc dù những vấn đề mà tác giả đề cập trên là bài toán chung của rất nhiều quốc gia đã và đang phát triển, nhưng có lẽ không có một nước nào mà sự chia rẽ và phân cực trong tư tưởng lại quyết định đến cán cân thế giới nhiều như Mỹ. Và khi theo dõi diễn biến của cuộc tranh cử tổng thống Mỹ vừa qua, mình hoàn toàn hiểu được động lực của tác giả khi viết quyển sách này, bởi có quá nhiều luận điệu chính trị đưa ra chỉ dựa trên lý thuyết kinh tế được đơn giản hóa quá mức mà thiếu đi cái nhìn toàn cảnh.

Đơn cử như là về vấn đề nhập cư. Mặc dù đối tượng mà Trump ra lệnh trục xuất là những người nhập cư bất hợp pháp, và điều đó là hoàn toàn đúng xét trên khía cạnh luật pháp cũng như an ninh quốc phòng, thế nhưng khi nhìn vào những cuộc thảo luận trên mạng, mình có thể thấy ẩn sâu bên dưới là bóng dáng của một sự bài xích nhập cư nói chung.

Bỏ qua những quan ngại liên quan đến yếu tố văn hóa, một diễn ngôn thường xuyên được đưa ra là người nhập cư đến sẽ “cướp đi” công ăn việc làm của người dân bản xứ, cũng như kéo mặt bằng tiền lương của người lao động trình độ thấp đi xuống. Phe chống đối thường trích dẫn một báo cáo do Steven Camarota, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư, thực hiện. Báo cáo này kết hợp số liệu việc làm của cả người nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp tại Mỹ nhằm củng cố quan điểm rằng người nước ngoài đang chiếm phần lớn tăng trưởng lao động của Mỹ và hưởng lợi nhiều nhất.

Dựa vào những nghiên cứu với số liệu cụ thể, hai tác giả đã chỉ ra rằng, hầu như có rất ít bằng chứng cho thấy người nhập cư kéo tiền lương đi xuống, và họ không lấy mất đi công việc, mà thường là bổ khuyết vào những vị trí mà người bản địa vốn không muốn làm, thậm chí giúp người bản địa được thăng tiến lên những chức vụ quản lý cao hơn. Những công việc không tuyển được đủ người nhập cư vào làm thường sẽ được đẩy mạnh tự động hóa, hoặc đơn giản là bỏ qua hẳn.

Hơn nữa, trái với suy nghĩ thông thường là cứ ở đâu lương cao thì người người nhà nhà sẽ ùn ùn kéo đến, quyển sách dẫn chứng nhiều kết quả thử nghiệm cho thấy con người có một sức ì rất lớn. Họ không dễ gì từ bỏ nơi sinh sống và các mối quan hệ quen thuộc của mình để đến một vùng đất mới với đầy rủi ro bất định, trừ phi là quê nhà của họ thực sự quá khó khăn không thể ở được nữa.

Với những luận điểm trên, hai tác giả muốn mọi người nghĩ về vấn đề nhập cư với một cái nhìn cảm thông hơn, để từ đó đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, đặc biệt khi suy xét đến yếu tố nhân đạo trong việc tiếp nhận nhập cư tị nạn. Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, mình cho rằng tác giả cũng có phần thiếu sót khi chưa nói chi tiết hơn về những biện pháp thực tiễn để kiểm soát nhập cư hiệu quả, bởi không phải trường hợp nào thì nhập cư cũng là tốt.

Nhập cư sẽ có lợi nếu như thị trường việc làm và các nguồn lực khác trong xã hội còn dư địa để hấp thụ lượng người đi vào. Trường hợp đó sẽ tránh được cạnh tranh lao động trực tiếp, mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu số lượng việc làm ở quốc gia sở tại đang bị giới hạn, hệ thống phúc lợi xã hội đang căng cứng, thì việc tiếp nhận lượng lớn người nhập cư vào trong thời gian ngắn sẽ dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực.

Khi nhìn sang Canada, nổi tiếng là một nước thân thiện với người nhập cư, mình có thể thấy được làn sóng phẫn nộ của người dân đối với chính sách nới lỏng cho nhập cư ào ạt của nhà nước trong thời gian gần đây (số lượng người nhập cư tăng từ khoảng 260 ngàn người năm 2014 lên gần 500 ngàn người năm 2024, mức tăng gần như gấp đôi). Hệ quả kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp của nước này đã tăng cao, đạt mức cao nhất là 6.8% vào tháng 11 năm 2024, được cho là do tốc độ tăng trưởng dân số vượt quá tốc độ tạo ra việc làm.

Vậy nên các nhà lãnh đạo cần phải hiểu được thực tế hoàn cảnh kinh tế của đất nước mình để đưa ra chính sách phù hợp nhất, đồng thời giữ một thái độ ôn hòa tỉnh táo, không bài bác hạn chế, nhưng cũng không nên nới lỏng quá mức.

Chủ đề tiếp theo trong cuốn sách khiến mình thấy hứng thú nhất chính là vấn đề thương mại. Trong đó tác giả chỉ ra rằng, mặc dù thương mại tự do có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tổng thể, nhưng lợi ích và chi phí của nó không được phân bổ đồng đều trong xã hội.

Trong suốt một khoảng thời gian dài, đặc biệt là thập kỷ đầu của thế kỷ 21, việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, tạo ra một thế giới toàn cầu thật sự phẳng, dường như là phương châm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của gần như mọi quốc gia. Chiếu theo lý thuyết kinh tế cổ điển, điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi mỗi quốc gia sẽ tối ưu được chi phí khi ưu tiên sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế cạnh tranh tương đối, và nhập vào những mặt hàng còn lại.

Tuy nhiên, như tác giả chỉ ra, lợi ích tổng thể này không được chia đều cho tất cả, mà có những nhóm ngành chịu tổn thất nghiêm trọng, kéo theo nền kinh tế của cả một khu vực địa phương đi xuống. Công cuộc chuyển đổi sang công việc mới, bao gồm việc phải chuyển đi nơi khác để sống, là không hề dễ dàng đối với rất nhiều người lao động, đặc biệt khi họ thiếu kỹ năng hoặc cơ hội phù hợp.

Khi đọc chương sách này, mình không khỏi nhớ đến hoàn cảnh của thành phố Detroit. Detroit từng một thời là thủ phủ của ngành công nghiệp ô tô Mỹ, tuyển dụng hàng trăm nghìn lao động, nhưng trước sức ép từ các hãng sản xuất ô tô nước ngoài với chi phí nhân công rẻ hơn, ba hãng xe lớn của Mỹ cũng buộc phải di dời, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của thành phố dâng cao, dân số sụt giảm, thâm hụt ngân sách. Năm 2013, Detroit đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản với khoản nợ hơn 18 tỷ USD, trở thành thành phố lớn nhất nước Mỹ phá sản thời điểm đó.

Sự bất ổn và mâu thuẫn chính trị cũng từ đó mà ra. Những con người bị bỏ lại phía sau, trong một nền kinh tế tăng trưởng như vũ bão, sẽ không khỏi mang trong lòng những uất huận và thù hằn. Sự mâu thuẫn này phần nào giải thích cho kết quả bầu cử Mỹ vừa rồi, khi mà tổng thống Donald Trump đã tái đắc cử với tỷ lệ phiếu bầu rất cao từ những người lao động phổ thông khi ông đề xuất các biện pháp thuế quan để kêu gọi doanh nghiệp sản xuất quay trở lại Mỹ. Lúc này đây, ta có thể thấy rằng, người dân Mỹ đã bắt đầu không còn tin vào lý tưởng toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại đa phương nữa.

Điều thú vị là, nếu tách vấn đề khỏi những tranh luận chính trị xung quanh Trump, ý tưởng rằng nền kinh tế Mỹ có khả năng tự cung tự cấp tương đối cao không phải hoàn toàn thiếu cơ sở. Trong cuốn sách, hai tác giả có đề cập đến một nghiên cứu khá thú vị mà theo mình có thể phần nào luận giải cho quan điểm của Trump. Đó là bài nghiên cứu của Costinot và Rodriguez-Chare, được phát hành vào tháng 03/2018, đi sâu vào việc bóc tách lợi ích mà Mỹ thu được từ thương mại. Theo ước tính của họ, lợi ích mà Mỹ thu được từ thương mại là khoảng 2,5% GDP (hoặc trong kịch bản hàng nhập khẩu rất khó bị thay thế thì con số đó có thể lên đến 4%). Hai tác giả đưa ra một so sánh khá thú vị: với tốc độ tăng trưởng 2,3% của Mỹ vào năm 2017, chỉ một năm tăng trưởng tốt đã gần tương đương với toàn bộ lợi ích mà thương mại đem lại, hay theo cách nói của họ, gần đủ để “trả giá” cho việc đưa nền kinh tế Mỹ vào trạng thái tự cung tự cấp hoàn toàn.

Tính tới thời điểm đó, tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu để tiêu dùng trực tiếp chỉ chiếm 8% tổng tiêu dùng của nước Mỹ, còn nếu tính thêm hàng hóa làm nguyên liệu sản xuất thì chỉ thêm 3,4% nữa của tổng lượng tiêu dùng. Đây có thể xem là một tỷ trọng khiêm tốn, và thực tế thì tỷ phần nhập khẩu của Mỹ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Với một thị trường nội địa khổng lồ và cơ cấu sản xuất đa dạng, nếu thuế quan khiến cho hàng hóa nhập khẩu trở nên quá đắt đỏ, thì bản thân các nguồn lực trong nước Mỹ sẽ vẫn có khả năng dịch chuyển để sản xuất các mặt hàng thay thế. Điều thiệt hại ở đây chủ yếu chỉ là hiệu quả kinh tế: người Mỹ sẽ phải chi trả nhiều hơn cho cùng một món hàng mà họ đáng ra có thể nhập khẩu rẻ hơn từ nơi khác.

Tuy nhiên, theo mình thì con số vài phần trăm này chỉ nên được hiểu như là kết quả của một mô hình giả lập hơn là dự báo chính xác những gì sẽ diễn ra nếu Mỹ thật sự đóng cửa giao thương với quốc tế. Tổng thống Trump khi đòi áp mức thuế 200% lên Trung Quốc có lẽ đã quên mất rằng phía Trung Quốc đang nắm giữ vị thế thống trị chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, là thành phần nguyên liệu trọng yếu cho ngành công nghiệp quốc phòng, hàng không vũ trụ và bán dẫn của Mỹ. Khi Trung Quốc đáp trả bằng việc ngừng xuất khẩu đất hiếm, Mỹ ngay lập tức phải xuống thang, bởi nếu không thì khả năng cao là họ sẽ đánh mất vị trí dẫn đầu về công nghệ, và điều này sẽ gây ra những thiệt hại to lớn không chỉ về kinh tế. Vậy nên trong thực tế, có những hàng hóa mà Mỹ bắt buộc phải nhập khẩu nếu muốn tiếp tục duy trì vị thế hiện tại, và bất kì sự đứt gãy thương mại nào cũng sẽ tạo ra những hiệu ứng dây chuyền mà các mô hình đơn giản khó phản ánh đầy đủ.

Quay trở lại về vấn đề lợi ích của thương mại tự do, ta có thể thể thấy rằng thương mại tự do đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều đối với các quốc gia nhỏ hơn và kém phát triển hơn, tiêu biểu như nhóm nước Đông Nam Á, Đông Nam Âu hoặc châu Âu. Khác với Mỹ, các quốc gia này có quy mô dân số nhỏ và thu nhập thấp, dẫn đến việc nhiều ngành nghề rất khó duy trì tổ chức sản xuất trên quy mô lớn. Đây là điều mình đặc biệt thấm thía khi đang làm việc cho một công ty trong ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam. Nếu không có thị trường nước ngoài, chi phí để chỉ sản xuất cho thị phần nội địa sẽ trở nên cực kì đắt đỏ, và khả năng duy trì ngành sẽ vô cùng khó khăn.

Việt Nam quê hương mình đã được hưởng lợi rất nhiều từ thương mại tự do, đây là điều không cần bàn cãi. Từ một quốc gia nghèo đói lạc hậu chỉ mới thoát khỏi chiến tranh năm 1975, giờ đây Việt Nam là nước có thặng dư thương mại hàng hóa lớn nhất với Mỹ, leo lên vị trí thứ 18 trong top 30 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới. Và trong sự phát triển này, nhập khẩu không hẳn là đối thủ của sản xuất trong nước, mà chính nhờ nó Việt Nam mới có nguyên liệu đầu vào để tạo ra các mặt hàng xuất khẩu. Lợi ích kinh tế của Việt Nam gắn chặt với thương mại tự do, và đó là một cấu trúc kinh tế rất khác với Mỹ.

Tuy nhiên, theo như tác giả Banerjee và Duflo chỉ ra, có một điểm này mà cả Mỹ và những nước kém phát triển hơn như Việt Nam đều giống nhau, đó là sự phân bổ không đồng đều của các lợi ích kinh tế tổng thể có được nhờ thương mại tự do. Đồng ý rằng tổng thu nhập của người dân ở những nước nghèo đều sẽ được cải thiện, nhưng trong một số trường hợp quá trình mở cửa còn có thể làm gia tăng những dạng bất bình đẳng sẵn có. Những lao động có trình độ, những người có sở hữu vốn hoặc ở những khu vực có hạ tầng phát triển, sẽ có mức thu nhập tăng nhanh hơn nhiều, tạo ra những khoảng cách ngày một lớn hơn giữa các thành phần trong xã hội. Xảy ra điều đó là vì các ngành xuất khẩu mới không nhất thiết sử dụng chính những người lao động vừa mất việc ở các ngành cũ. Công nghệ mới có thể đòi hỏi lao động có trình độ cao hơn; nhà máy mới có thể nằm ở một địa phương khác; còn người lao động thì, như chính tác giả đã phân tích ở phần nhập cư, không dễ dàng thay đổi nghề nghiệp hay chuyển nơi sinh sống.

Và đó chính là một trong những điều khiến mình vô cùng tâm đắc về cuốn sách này. Bởi hai tác giả đã không vẽ ra một bức tranh thương mại chỉ toàn màu hồng. Họ đi xa hơn những lợi ích bề mặt mà lý thuyết kinh tế học truyền thống thường mô tả, để bóc tách cho chúng ta biết ai đang thực sự hưởng lợi phía sau nó. Thương mại tự do không đơn giản là tốt hay xấu. Điều quan trọng là ta phải nhìn vào cách lợi ích được phân bổ, khả năng thích nghi của những nhóm chịu thiệt hại, để từ đó xây dựng nên những chính sách xã hội cần thiết, ngay cả khi việc này là vô cùng khó khăn.

Trong thời đại mà các căng thẳng chính trị ngày một leo thang, mình cho rằng Good Economics for Hard Times là một cuốn sách rất hay để giúp mọi người có một cái nhìn đa chiều và tỉnh táo hơn về các vấn đề kinh tế – xã hội. Quyển sách không cung cấp một lời giải cụ thể, nhưng ít nhất nó cho mình sự khiêm tốn để hiểu những câu hỏi lớn của xã hội hiếm khi có một đáp án đơn giản. Một chính sách có thể đem lại lợi ích cho số đông nhưng đồng thời khiến một nhóm người khác phải trả giá; một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhưng không phải ai cũng được hưởng lợi như nhau; và một lý thuyết nghe hoàn toàn hợp lý trên giấy vẫn có thể cho ra những kết quả rất khác khi đặt vào đời sống thực tế.

Có lẽ điều quan trọng nhất mình nhận được sau khi đọc cuốn sách không phải là biết mình nên đứng về phía nào trong từng cuộc tranh luận, mà là học cách chậm lại trước những kết luận tưởng như quá hiển nhiên: nhìn vào bằng chứng, đặt câu hỏi về những gì đang bị bỏ sót, và chấp nhận rằng thực tế thường phức tạp hơn rất nhiều so với những câu trả lời dễ dàng mà chúng ta muốn tin.

What I Really Learned from Working in Real Estate

When I look back on my time as a sales and leasing consultant, I realize I took away so much more than just how to sell property or close a deal. That chapter taught me a lot about people — how they think, what they care about — and also helped me understand the kind of person I want to be at work. I learned about patience, communication, and what it means to stay true to yourself when things get tough.

Here are some of the lessons that really stayed with me:

Đọc tiếp “What I Really Learned from Working in Real Estate”

[Thoughts] Chiến lược sai lầm của Nike

Nike – một thương hiệu thể thao mà có lẽ ai cũng từng nghe đến với câu tagline nổi tiếng “Just do it”, từ lâu đã là biểu tượng cho sự sáng tạo và tinh thần dấn thân mạnh mẽ. Với doanh thu từng đạt mốc hơn 50 tỷ USD vào năm 2022, Nike có thể được coi là ông hoàng trong ngành giày dép và thời trang thể thao.

Nhưng năm 2024 lại là một câu chuyện khác với Nike, khi doanh số của họ giảm 10% từ mức đỉnh và giá cổ phiếu lao dốc tới 20%. Nike thực tế vẫn chiếm thị phần lớn nhất trong ngành hàng giày thể thao, nhưng sự sụt giảm như vậy không khác gì một hồi chuông cảnh báo vô cùng đáng lo đối với vị thế người dẫn đầu.

Qua tìm hiểu về câu chuyện của Nike, cá nhân mình có đúc rút lại một số suy nghĩ về những sai lầm trong chiến lược của Nike như sau:

Câu chuyện thương hiệu hay là chưa đủ. Sai lầm trong chiến lược kênh phân phối.

Nike từ trước đến nay luôn được ngưỡng mộ với cách họ kể chuyện. Các chiến dịch như “Just Do It” hay việc tài trợ cho những vận động viên hàng đầu luôn giúp Nike giữ được sự hấp dẫn trong mắt người tiêu dùng. Nhưng có lẽ lần này, chỉ mỗi câu chuyện thương hiệu thôi là không đủ.

Bắt đầu từ năm 2017, Nike đã có kế hoạch giảm dần sự hợp tác với các nhà bán lẻ ở phân khúc bình dân như Foot Locker, DSW hay Macy’s, và tập trung đẩy mạnh mô hình bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng (Direct-to-Consumer – DTC). Đến cuối năm 2020, họ đã cắt giảm khoảng 1/3 các đối tác bán hàng ở mặt bằng truyền thống. Họ tin rằng cách này sẽ giúp khách hàng trung thành hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn trên mỗi sản phẩm. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực tế thì không hẳn như vậy.

Đã có một khoảng thời gian, chiến lược DTC này có vẻ như đang đi đúng kỳ vọng. Vào năm 2020, trong giai đoạn Covid, doanh số bán qua kênh online của Nike tăng kỷ lục hơn 70%, chiếm đến 30% tổng doanh số. Tuy nhiên sau khi thế giới quay lại với nhịp sống bình thường và việc giãn cách kết thúc, doanh số bán online của Nike bắt đầu đi ngang và sụt giảm.

Nhiều người tiêu dùng vẫn thích sự tiện lợi và đa dạng khi mua sắm tại các cửa hàng như Foot Locker. Họ có thể thử nhiều mẫu giày, so sánh thương hiệu, và có trải nghiệm mua sắm toàn diện mà một cửa hàng DTC online không thể mang lại. Việc Nike quá tự tin vào sự hấp dẫn của thương hiệu mình mà coi nhẹ tầm quan trọng của việc xuất hiện tại các điểm bán vật lý có thể nói là một sai lầm.

Khi Nike rời khỏi các kênh bán lẻ này, họ vô tình tạo cơ hội cho các đối thủ như Hoka, On, New Balance chen chân. Các thương hiệu này không chỉ tận dụng cơ hội để mở rộng thị phần mà còn xây dựng mối quan hệ bền chặt với các cộng đồng chạy bộ – điều mà Nike cũng đã lơ là trong suốt khoảng thời gian tập trung đẩy mạnh kênh online.

Mô hình DTC: Không phải lúc nào cũng màu hồng

Đọc tiếp “[Thoughts] Chiến lược sai lầm của Nike”

[Review] Sách: Những tù nhân của địa lý – Tim Marshall

Gần đây, khi cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraina nổ ra, có một từ khóa mà mình bỗng nhiên lại nghe nhắc tới với tần suất nhiều hơn hẳn, đó là từ “địa chính trị”.  Vẫn biết địa lý đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia và là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược trong quá khứ, nhưng ở thời kỳ tương đối hòa bình hiện tại, khi mà hợp tác quốc tế dường như là xu hướng tất yếu, mình đã phần nào nghĩ rằng địa lý không còn là một rào cản quá lớn giữa các nước. Những căng thẳng đối đầu khi xưa có thể sẽ được dàn xếp để ưu tiên lợi ích kinh tế thương mại.

Thế nhưng có vẻ đó là một suy nghĩ có phần ngây thơ, bởi khi đọc quyển “Những tù nhân của địa lý” của Tim Marshall, một phóng viên và nhà báo người Anh, mình nhận ra rằng có lẽ các lãnh đạo quốc gia sẽ còn mất một thời gian rất dài để thoát khỏi “nhà ngục địa lý” đã hằn sâu trong tâm trí họ. Những đường biên giới và lãnh thổ ngày nay dù cho được hình thành bởi tự nhiên hay nhân tạo, tất cả đều được đổi bằng máu của biết bao thế hệ, sẽ tiếp tục tác động lên các chính sách đối ngoại của các nước.

Bản thân mình trước giờ khi nghĩ về địa lý thường chỉ nhớ đến các yếu tố như khí hậu, cảnh quan, hoặc các tài nguyên phục vụ mục đích kinh tế, chứ không nghĩ nhiều đến tính chiến lược của vị trí mỗi quốc gia trong tương quan với các nước khác. Phải thú thật là, có lẽ quốc gia duy nhất mà mình nắm được tương đối giá trị của địa lý với quân sự hay thương mại cho tới giờ chỉ có mỗi Việt Nam, quê hương của mình. Mãi đến khi đọc cuốn sách này, mình mới nhận thức được rõ nét hơn về cách địa lý đã và đang tác động lên quan hệ quốc tế của các nước, cũng như có một kiến thức nền tốt hơn để hiểu các tin thời sự đang diễn ra mà trước đây mình khá mù mờ.

Quyển sách được tác giả bố cục thành 10 chương, cũng là 10 vùng địa lý mà tác giả đi vào chi tiết, bao gồm: Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Tây Âu, Châu Phi, Trung Đông, Ấn Độ và Pakistan, Triều Tiên và Nhật Bản, Châu Mỹ Latin, Bắc Cực. Ở mỗi chương, tác giả luận giải việc các kiến tạo tự nhiên giúp một quốc gia đạt được sức mạnh về kinh tế hay quân sự thế nào, chia cắt các sắc tộc ra sao, tạo nên các hàng rào phòng thủ tự nhiên hay đòi hỏi các biện pháp vũ trang cứng rắn.

Việc tác giả bắt đầu cuốn sách với chương về Nga có thể nói là một sự trùng hợp rất thú vị bởi ở thời điểm hiện tại khi mà cuộc chiến giữa Nga và Ukraine vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại, nó giúp mình nhận thức được rõ hơn bao giờ cái mà tác giả gọi là “tù nhân của địa lý”. Việc đất nước này thiếu một cảng nước ấm kết nối tự do ra các đại dương mà không bị đóng băng vào mùa đông, cũng như vùng biên giới bằng phẳng dễ công khó thủ của Nga ở đồng bằng Bắc Âu, luôn mãi là hai yếu điểm tự nhiên làm ám ảnh biết bao thế hệ lãnh đạo của đất nước này, từ Đại Công quốc Muscovy, qua thời Peter Đại Đế, đến Stalin và Putin. Để phần nào khắc phục điều này, Nga đã đánh đổi rất nhiều, bao gồm việc chiếm lại Crimea để xây dựng hạm đội hải quân tại cảng Sevastopol cũng như chi phối các đảng phái chính trị để giữ Ukraine là một nước trung lập không thuộc NATO nhằm duy trì vùng đệm phòng thủ cho mình.

Có thể với một người dân bình thường như mình, việc Ukraine có muốn gia nhập NATO hay không là chuyện của họ và chúng ta nên tôn trọng điều đó. Thế nhưng đối với một lãnh đạo như Putin, đây có thể ví như việc kẻ thù đang đem vũ khí đến sát cửa và có thể đe dọa an toàn lãnh thổ của Nga bất cứ lúc nào. Bỏ qua tất cả những lợi ích mà hòa bình mang lại cho kinh tế của Nga, bất chấp các quyết định trừng phạt quốc tế, Putin vẫn phát động chiến tranh để ép Ukraine từ bỏ ý định này. Putin có thể có lựa chọn khác đi không? Sẽ có nhiều người cho rằng chính vì địa lý của Nga mà Putin buộc phải tấn công như vậy, ông chỉ đang chơi ván bài mà tự nhiên đã sắp xếp cho Nga, và đó chính xác là “nhà tù” mà tác giả nói tới. Rất khó để những nhà lãnh đạo của một nước tin rằng những đường biên giới của họ sẽ luôn được bảo hộ an toàn, cũng như không ai muốn bị đặt vào thế bị động trong quận sự, và ngay cả sự hội nhập toàn cầu hóa cũng sẽ không xóa nhòa đi được những song tù tâm lý vô hình này.

Tương tự như vậy, Trung Quốc dù có nền kinh tế hợp tác chặt chẽ với Mỹ, nhưng về mặt chính trị hay quân sự, nước này luôn e ngại việc các hạm đội của mình bị cô lập khi đi ngang vùng biển Nhật Bản và eo biển Malacca, vốn được kiểm soát bởi các nước thân cận với Mỹ. Điều này dẫn đến việc họ không ngừng tìm kiếm một con đường khác để tiếp cận đại dương một cách tự do hơn, như là thuê cảng nước sâu tại Gwadar, Pakistan và cố gắng thiết lập tuyến đường bộ dẫn thẳng đến Trung Quốc, hay như việc xây dựng các đường ống dẫn khí và dầu mỏ nối trực tiếp đến vịnh Bengal thông qua Miến Điện. Và cũng như việc Nga muốn kiểm soát Ukraine, Trung Quốc kiên quyết muốn kiểm soát Tây Tạng để tạo ra một vùng đệm biên giới an toàn trước Ấn Độ, đồng thời đảm bảo thượng nguồn của ba con sông lớn của Trung Quốc sẽ không bị nước nào khác khống chế. Để đạt được mức độ phòng thủ cao nhất và giảm thiếu những hạn chế về mặt vị trí địa lý tự nhiên, các lãnh đạo Trung Quốc sẽ không ngừng thực hiện các chính sách đối ngoại vừa hợp tác vừa gây sức ép lên các nước lân cận, đồng thời dùng quyền lực mềm để mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế.

Chương sách về Châu Phi và Trung Đông khắc họa hoàn cảnh của những quốc gia bị cầm tù trong không gian địa lý vừa do bàn tay tự nhiên sắp đặt, vừa do lịch sử nhào nặn. Quyển sách chỉ ra rất nhiều xung đột ở khu vực này thực chất là kết quả của sự vô trách nhiệm trong quá khứ khi các nước thực dân đã vạch ra những đường biên giới nhân tạo mà không hề có chút trân trọng với lịch sử và văn hóa người dân địa phương, để lại hậu quả là những cuộc chiến tranh sắc tộc dai dẳng đến tận ngày nay. Bản thân địa lý của những khu vực này đã hạn chế giao thương và tách biệt các dân tộc với nhau, việc tùy tiện cưỡng ép họ hợp thành các quốc gia dân tộc, vốn đòi hỏi một căn tính quốc gia thống nhất, chỉ làm trầm trọng thêm các vấn đề bạo lực diễn ra ở đây. Tuy vậy, rất may mắn là về mặt kinh tế, các quốc gia ở đây đang có những bước tiến mới nhờ tận dụng được lợi thế tài nguyên khoáng sản và đang sử dụng công nghệ để khắc phục những bất lợi mà tự nhiên an bài trước đây, như là tạo nên những cảng biển nước sâu và các ốc đảo bao quanh bởi sa mạc.

Ở vị trí ngược lại, các nước ở châu Âu được hưởng lợi rất nhiều về mặt địa lý tự nhiên, cho phép sự thông thương và phát triển kinh tế vượt trội, trở thành những nước cường quốc có điều kiện mở rộng phạm vi của mình khắp thế giới. Đây là những nước đi đầu trong lý tưởng về một thế giới phẳng hơn, nơi mà các nước có cùng những giá trị dân chủ và nhân quyền sẽ có thể hợp tác với nhau khăng khít hơn thông qua những chính sách kinh tế, đối ngoại và quân sự chung. Tuy nhiên, khi phải đứng trước các thách thức thực tiễn về việc các nước giàu phải giúp đỡ các nước nghèo hơn, hoặc về việc đón nhận các dòng người nhập cư hay tị nạn từ Trung Đông và châu Phi, mối dây liên kết giữa các nước EU lại có dấu hiệu tan rã, và các nước lại quay về cố thủ trong những đường biên giới của mình. Có lẽ đúng như tác giả nhận định, “địa lý cho chúng ta biết rằng nếu con người không liên tục cố chiến thắng các ‘quy luật’ của nó, thì những ‘quy luật’ ấy sẽ chiến thắng con người”, “đến lúc đó, chúng ta sẽ quay trở lại với một châu Âu với những quốc gia có chủ quyền, với việc mỗi một nhà nước đều tìm kiếm đồng minh trong một thế cân bằng của hệ thống quyền lực”.

Tuy nhiên, mình không nghĩ mục đích của tác khi viết quyển sách này là để nói rằng số phận các quốc gia là tất định, hay để tán đồng với các chính sách đối ngoại của lãnh đạo các nước dựa trên lý thuyết của địa chính trị. Thay vào đó, tác giả muốn chúng ta có một khung nền kiến thức bao quát để lý giải được những sự kiện đã và đang diễn ra trên thế giới, nhằm có những cuộc thảo luận chất lượng hơn về tương lai của loài người nói chung. Chúng ta vẫn sẽ bị giới hạn bởi môi trường, nhưng nhờ khoa học công nghệ, thế giới trong tương lai có thể sẽ được định hình bởi những mảng địa lý nhân tạo nhiều hơn bởi tự nhiên. Để rồi, khi mà con người có thể vượt lên được gông cùm tâm lý của sự sợ hãi và tham lam, cởi bỏ được sự nghi ngờ của mình đối với những “kẻ khác”, chúng ta sẽ có cơ hội thoát khỏi sự kìm hãm của địa lý để đem lại lợi ích chung cho tất cả mọi người.

Khép lại cuốn sách, mình tin rằng đây là quyển sách rất bổ ích và thú vị với những ai ít nhiều có mối quan tâm về các sự kiện thời sự đang diễn ra. Địa lý, chính trị hay lịch sử thường là những đề tài khô khan đối với số đông người đọc, thế nhưng cây bút kỳ cựu Tim Marshall đã rất khéo léo lồng nghép những chủ đề này để vẽ nên một bức tranh sinh động về mối quan hệ quốc tế giữa các nước. Đương nhiên đây cũng là những đề tài rất rộng nên những gì tác giả khai thác để viết vào sách chủ yếu mang tính chất nhập môn và khơi gợi hứng thú để người đọc tiếp tục tìm hiểu thêm. Ngoài địa lý thì sự phát triển của các quốc gia còn chiu sự chi phối của hệ tư tưởng, tôn giáo, thể chế pháp luật, khác biệt sắc tộc, đây là những điều tác giả có đề cập đến nhưng theo mình chưa đi đủ sâu sát trong quyển sách. Vấn đề di dân và việc hình thành căn tính của một quốc gia dân tộc cũng là những đề tài mà mình sẽ rất hứng thú để tìm hiểu thêm sau khi đọc qua quyển sách này.   

[Tản mạn] AI và 21 bài học cho thế kỷ 21 – Yuval Noah Harari

Gần đây, với việc nổi lên của ChatGPT như một hiện tượng công nghệ có khả năng thay đổi thế giới, mình không khỏi liên hệ đến một quyển sách cũng rất thú vị mà mình từng đọc: 21 bài học cho thế kỷ 21 của Yuval Noah Harari.

Nếu ai đã từng đọc qua Sapiens và Homo Deus thì chắc hẳn cũng biết tác giả có những góc nhìn về thế giới rất độc đáo, và điều đó lại tiếp tục phát huy trong cuốn sách này. Tuy nhiên, thay vì bàn về sự vận động của xã hội loài người theo tiến trình thời gian, từ quá khứ phóng dẫn đến tương lại như trong hai quyển sách trước, ở quyển 21 bài học cho thế kỷ 21, tác giả tập trung mổ xẻ những vấn đề lớn mà thế giới đang phải đối mặt ở thời điểm hiện tại nhiều hơn.

Nhưng đừng để tựa đề của quyển sách đánh lừa các bạn, bởi tác giả không đưa ra một đáp án hay bài học cụ thể nào cho chúng ta cả. Thay vào đó, dùng chữ “quan sát” thì có lẽ phản ánh đúng tinh thần tác giả hơn. Quyển sách này có thể xem như là một tập hợp 21 tiểu luận của tác giả xoay quanh nhiều chủ đề: từ ảnh hưởng của công nghệ thông tin và sinh học lên đời sống con người, đến những khó khăn trong hợp tác toàn cầu gây ra bởi các chia rẽ chính trị, tôn giáo, và văn hóa.

Trong đó, phần khiến mình hứng thú nhất có lẽ là về sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Với sự ra đời của một loạt công cụ AI làm mưa làm gió trên thế giới trong thời gian gần đây như Midjourney, ChatGPT, mình cảm thấy những luận bàn của tác giả về sự “đứt gãy công nghệ” đang diễn ra là một điều cần được mọi người quan tâm nhiều hơn.

Ở thời điểm hiện tại, Midjourney đã cho ra tác phẩm thắng giải một triển lãm tranh ở bang Colorado, còn ChatGPT thì đã cấu trúc được những văn bản tương đối mạch lạc và có cả chiều sâu nhờ khả năng tổng hợp dữ liệu khổng lồ của mình. Đa số mọi người đều cho rằng đây sẽ là những công cụ hỗ trợ con người vô cùng đắc lực, bởi nó sẽ giúp mọi người tiết kiệm thời gian hơn, hoặc loại bỏ những công việc đơn giản nhàm chán không kích thích tư duy sáng tạo. Nhìn chung mọi người có vẻ đồng thuận rằng đây chính là xu hướng phát triển tất yếu, và con người sẽ học được cách sử dụng AI để làm việc trong tương lai.

Tuy nhiên, cũng chính vì điều đó mà mình khá đồng ý với những quan ngại của tác giả về việc con người có thể sẽ phải đối mặt với sự vô dụng của chính mình trong tương lai không xa.

Trong quyển sách tác giả có đề cập đến câu chuyện về chương trình Alpha Zero đã đánh bại Stockfish 8, chương trình vô địch cờ vua máy tính thế giới vào năm 2016. Tuy nhiên, khác với Stockfish 8 được huấn luyện từ những nước cờ đúc kết bởi con người, kết hợp cùng khả năng tính toán của máy tính, thì Alpha Zero đã tự học chơi cờ từ con số không và sáng tạo ra những nước đi mới hoàn toàn bằng khả năng tự tổng hợp của nó, chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ.

Chính vì Alpha Zero không dùng kinh nghiệm của con người để chơi, nên một số nước đi của nó được đánh giá là sáng tạo hơn cả người. Và nếu trong tương lai những dạng trí tuệ nhân tạo khác cũng làm được điều này thì sao, khi mà chúng không bị phụ thuộc vào suy nghĩ lối mòn của con người, mà có thể tự mình đưa ra những ý tưởng hoàn toàn mới?

Ở thời điểm hiện tại thì giả thuyết trên vẫn chưa xảy ra. Các mô hình trí tuệ nhân tạo như ChatGPT vẫn còn đang dừng ở việc thu thập và xử lý thông tin cơ bản, và vì thông tin nạp vô có thể đúng sai lẫn lộn, nên rất khó đảm bảo tính chính xác của nội dung được ChatGPT cho ra.

Tuy nhiên, đây chỉ là phiên bản rất sơ khai, và với tốc độ phát triển của công nghệ, rất có thể trong tương lai những con bot AI này hoàn toàn có khả năng tự học, tự hiệu chỉnh, và tự sáng tạo như Alpha Zero. Sáng tạo, một khả năng trước giờ chỉ duy nhất con người sở hữu, rất có thể sẽ bị chia sẻ và thậm chí lép vế trước máy tính.

Tự động hóa đã thay thế rất nhiều công việc tay chân trong quá khứ và sẽ tiếp tục thay thế nhiều việc hơn trong tương lại, thế nhưng sự thay thế này vẫn cho phép một lực lượng nhân sự mất việc có thời gian để đào tạo bản thân làm những việc nhiều chất xám hơn. Tuy nhiên, nếu ngay cả những công việc cần nhiều chất xám và khả năng sáng tạo cũng có thể được đáp ứng tốt hơn với tốc độ nhanh hơn bởi AI thì sao?

Khả năng cao các công việc mới trong tương lai sẽ vẫn cần đến con người để phối hợp với trí tuệ nhân tạo, thế nhưng liệu số lượng công việc sinh ra đó có bù đắp đủ nhanh cho lượng việc mất đi do bị thay thế bởi năng suất của máy tính không? Và liệu rằng mọi người đều có đủ năng lực để nâng cấp bản thân nhằm theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ không? Đây là vài vấn đề mà tác giả nêu lên trong quyển sách để mọi người cùng suy nghĩ.

Và điều đáng sợ hơn cả có lẽ là một thế giới mà chúng ta sẽ có “thông minh nhân tạo” và “ngu dốt tự nhiên”. Nhiều người nói rằng những việc máy tính làm là những thứ đơn giản, để con người có thời gian giải quyết những vấn đề phức tạp hơn. Nhưng theo mình, chúng ta chỉ có thể xây dựng tư duy phân tích phức tạp chỉ khi có một lượng kiến thức nền đủ vững vàng. Nếu không chú ý, chúng ta rất có thể sẽ tự huấn luyện mình trở nên lệ thuộc vào các hệ thống máy tính và tự làm thui chột đi chính trí tuệ thật sự của mình. Có lẽ đây mới chính là cái bẫy lớn nhất của trí tuệ nhân tạo, bởi nó có thể âm thầm biến “nô lệ” trở thành “ông chủ” lúc nào không hay.

Một vấn đề cũng khác cũng rất đáng quan tâm mà tác giả nêu ra trong cuốn sách, là vấn đề về bình đẳng và quyền sở hữu dữ liệu.

Trí tuệ nhân tạo có được khả năng “thông minh” như hiện tại, vì nó đang xử lý một lượng lớn dữ liệu được thu thập trên không gian mạng. Tuy nhiên, đâu là giới hạn cho những thông tin được phép truy cập bởi AI, ai sẽ sở hữu dữ liệu này, và chúng ta sẽ chấp nhận đánh đổi những gì để có được lợi ích mà AI mang lại? Tuy chỉ mới ở giai đoạn bình minh của AI, nhưng hiện nay đã có khá nhiều tranh cãi liên quan đến việc đạo nhái và bản quyền trong thông tin mà AI cung cấp.

Một số người ủng hộ thì cho rằng AI cũng đang làm điều mà con người chúng ta bấy lâu nay vẫn làm, là cóp nhặt, tổng hợp rồi sáng tạo, chỉ là ở một tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng hơn. Một số người khác thì không cho rằng những gì AI đưa ra có thể được xem là sáng tạo, mà coi đây là những cỗ máy đạo nhái vô hồn không có ý thức, thế nên những tác phẩm chúng tạo ra không có giá trị nội tại gì đáng để thưởng thức.  

Điều nay khiến mình nhớ đến cuốn Homo Deus trước đó của tác giả. Trong đó, tác giả có nhắc đến một câu hỏi lớn, mà mình cho rằng sẽ là yếu tố then chốt để chúng ta có thể định hướng việc sử dụng AI trong thời gian sắp tới này. Câu hỏi đó chính là:

Cái gì quan trọng hơn – trí tuệ hay ý thức?

Tuy rằng mọi thứ chưa quá rõ ràng, nhưng mình đang có sự cảm nhận nhất định về việc xã hội này đang đi theo hướng đề cao trí tuệ, kết quả, năng suất, hơn là chấp nhận những khiếm khuyết do sự giới hạn của con người có ý thức tạo ra. Mọi người đang muốn một bức tranh đẹp, chứ không nhất thiết là một bức tranh do con người sáng tác.

Ở thời điểm hiện tại, vì sự tiếp cận của AI theo mình vẫn còn rất nhiều giới hạn, nên những tranh luận trên dường như chỉ nằm ở phạm vi trà dư tửu hậu. Tuy nhiên, khi những kết quả mà AI đưa ra đang càng lúc càng hoàn thiện, thậm chí vượt xa con người, và nó sẽ ảnh hưởng đến công ăn việc làm của một bộ phận dân số đông đảo, thì những vấn đề trên có lẽ sẽ cần được nghiêm túc xem xét.

Ở một chiều hướng khác, sẽ vẫn có rất nhiều người được hưởng lợi từ trí tuệ nhân tạo, và họ cho rằng ai không trau dồi được kỹ năng sử dụng AI cho công việc của mình thì đành chịu bị đào thải. Có lẽ xã hội này rồi sẽ vận hành như vậy, suy cho cùng quy luật đào thải không tha cho bất cứ sinh vật nào không thích nghi được.

Tuy nhiên, nếu trước kia việc san lấp những bất bình đẳng trong xã hội có thể là một tương lai mà mọi người cùng kỳ vọng, chỉ cần mọi người nỗ lực làm việc chăm chỉ, thì nay nó càng ngày càng gần với một ảo ảnh chỉ có ở những người được sinh ra với điều kiện tương đối thoải mái. Còn với một phần đông dân số hiện đang sống trong nghèo khổ, kết quả của những bất công trong quá khứ, thì sự trỗi dậy của AI, có lẽ sẽ càng khiến cho giá trị kinh tế của họ ngày một thấp đi.

Điều mình quan tâm là, với những người không đủ năng lực cạnh tranh bị bỏ lại phía sau, liệu rằng các chính phủ sẽ có đủ nguồn lực để lo cho họ không? Làm thế nào để họ có thể đảm bảo một cuộc sống ổn định cho mình, khi mà công nghệ tự động hóa, kết hợp cùng trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học sẽ giải quyết rất nhiều bài toán cần sự lao động trực tiếp của con người.

Một trong những hướng giải quyết khả dĩ mà tác giả có nhắc đến trong quyển sách, đó là việc các chính phủ cung cấp thu nhập cơ bản phổ quát (UBI) hay dịch vụ cơ bản phổ quát (UBS) cho người dân. Lý thuyết này không mới, nhưng việc áp dụng nó trong thực tế như thế nào hiện vẫn còn rất nhiều vấn đề để cân nhắc, như là nguồn lực thực hiện điều này sẽ đến từ đâu và những tác động không tích cực của nó. Có thể lúc này, khi công việc vẫn còn tương đối có đủ cho phần lớn người trong độ tuổi lao động thì các vấn đề về UBI hay UBS cũng chưa thực sự quá cấp bách. Nhưng mình cho rằng đây sẽ là những vấn đề sớm được tranh luận nghiêm túc bởi ảnh hưởng của tốc độ phát triển AI trong tương lai.

Ở trên là suy nghĩ của mình về một vài điểm trong cuốn sách để lại cho mình nhiều ấn tượng nhất. Có lẽ vì mình đọc quyển sách này cũng cùng vào thời điểm mà các cuộc thảo luận về ChatGPT đang trở nên cực kỳ nóng sốt, nên bản thân không khỏi có nhiều liên tưởng hơn về chủ đề này.

Tuy nhiên, đây chỉ là một trong nhiều vấn đề xã hội khác mà tác giả đề cập đến. Một vài chủ đề khác mà mình thấy rất hay và đáng quan tâm có thể kể đến: bài toán nhập cư, phân biệt văn hóa, cái giá của sự thật, và sự khó khăn trong việc xác định công lý trong chuỗi hoạt động của loài người. Vẫn với lối viết văn cực kỳ cuốn hút mang chút trào phúng, tác giả cung cấp cho người đọc phông nền kiến thức cơ bản cùng một số góc nhìn để chúng ta tiếp tục có thể suy ngẫm và có nhiều cuộc thảo luận giá trị hơn trong thời gian sắp tới. Tiếp nối Sapiens và Homo Deus, 21 bài học cho thế kỷ 21 chắc chắn là một cuốn sách đáng đọc để chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò và trách nhiệm của con người trên thế giới này.

Một số bài viết và video mình có đọc qua và thấy khá hay nếu bạn nào có hứng thú tìm hiểu thêm về AI và chính sách UBI.

What are the next challenges for AI

[Review] Phim: Where The Crawdads Sing

Where The Crawdads Sing - Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát

Thật sự hiếm khi có một bộ phim nào khiến mình muốn ra rạp xem đến tận hai lần, nhưng Where The Crawdads Sing đã làm được điều đó. Chẳng có kỹ xảo hoành tráng, cốt truyện xoắn não, hay diễn viên hạng A nổi tiếng, bộ phim Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát chinh phục mình bởi những thước phim đậm chất thơ và một câu chuyện tưởng như nhẹ nhàng nhưng lại ẩn chứa rất nhiều khắc khoải và suy tư.

Có lẽ vì gu của mình hay do duyên mà những bộ phim mà mình cảm thấy hứng thú đa phần là phim chuyển thể từ sách, và lần này lại cũng đúng như vậy. Mình đã rất bất ngờ khi phát hiện ra rằng bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết bán chạy cùng tên của nhà văn Delia Owens. Đấy có lẽ cũng là lí do mà những lời dẫn phim dường như toát ra một vẻ đẹp rất tinh tế và gợi cảm hiếm thấy.   

 “Being completely alone was a feeling so vast it echoed.”

 “Within all the words of biology, I searched for an explanation of why a mother would leave her offspring.”

Đi kèm với ngôn từ nặng ký là những thước phim chậm rãi mượt mà với góc quay đẹp đến xiêu lòng. Khung cảnh vùng đầm lầy thị trấn Barkley Cove (được quay thực tế tại Louisiana) hiện lên căng tràn sức sống theo một cách vừa trong sáng thơ mộng lại có phần bí ẩn hoang dã. Những tán lá xanh mướt, những thân cây phủ rêu, bãi sậy và con nước chảy ngút ngàn tầm mắt, …tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh thiên nhiên nguyên sơ quyến rũ một cách khó cưỡng.

Có thể nói, vẻ đẹp của những cảnh quay thiên nhiên chính là một trong những điểm hút hồn mình nhất ở bộ phim. Tuy nhiên, điều khiến mình càng thích thú hơn nữa, chính là việc thiên nhiên không chỉ đơn thuần dừng ở vai trò làm nền cho các cảnh quay, mà nó còn ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với câu chuyện trưởng thành của nhân vật chính.

Kya, nhân vật chính của bộ phim, đã gắn bó cả cuộc đời cô với căn nhà gỗ ẩn mình trong khu đầm lầy ngập nước, tách biệt với phần hiện đại phồn hoa của thị trấn. Mặc dù chịu rất nhiều tổn thương, từ tuổi thơ bất hạnh phải sống với người cha bạo hành và bị bỏ lại, cho đến chuyện tình yêu tan vỡ và lòng tin bị phản bội, Kya vẫn giữ được khát vọng sống kiên cường, bền bỉ như chính thiên nhiên nơi cô sống. Sự say mê của cô với thế giới tự nhiên đã giúp cô vượt qua những ngày tháng cô đơn một mình, từng chút từng chút giúp cô xoa dịu nỗi đau, và cho phép cô giải phóng bản thân một cách tuyệt đối.

Theo đó, cô đã thành công thoát khỏi chiếc vỏ kén tách biệt với xã hội mà cô đã tự bao xung quanh mình từ bé. Là một đứa trẻ nghèo khó bị cha mẹ bỏ rơi, lại sống ẩn dật nơi đầm lầy, Kya không khỏi đối mặt với sự khinh khi xa lánh của người dân thành thị. Ấn tượng bị trêu ghẹo ngay ngày đầu đến trường lại càng khiến cô thu mình và tránh né tiếp xúc mọi người. Tuy nhiên, thế giới tự nhiên lại trở thành người thầy, người bạn của cô, đem đến cho cô nguồn tư liệu dồi dào để cô thỏa sức khám phá, từ đó giúp cô có được cơ hội để một lần nữa bước ra ngoài kết giao và nhận được sự tôn trọng từ người khác.

Nhưng sự giải phóng chân chính nhất có lẽ đến từ việc cô đã không ngần ngại phá bỏ những quan niệm cố hữu về thiện ác để giành quyền được sống cho chính mình. Mặc dù cho đến cuối cùng cái chết của Chase trên lý thuyết vẫn là một ẩn số, nhưng nó thật sự khiến mình suy nghĩ khá nhiều về những lằn ranh đạo đức. Kẻ giết người thì phải bị trừng phạt, điều này thoạt nghe rất đúng, nhưng liệu rằng chúng ta có thể trách Kya không nếu cô thật sự làm chuyện đó, sau khi chứng kiến tất cả những gì cô phải trải qua? Suy cho cùng, không có thiện ác trong thế giới tự nhiên và con mồi hoặc là chờ chết hoặc là chiến đấu để tồn tại. Đây là bài học mà tự nhiên dạy cho Kya, và mặc dù thật khó chấp nhận nếu cô dùng lý do đó để hạ sát Chase, nhưng có lẽ chỉ có cách đó cô mới có thể sống tự do mà không phải lúc nào cũng phập phồng sợ hãi.

Cái hay của bộ phim theo mình cũng nằm ở việc chúng ta cuối cùng cũng không biết được chính xác chuyện gì đã xảy ra vào đêm Chase chết. Kya chắc chắn có liên quan, nhưng không nhất thiết là kẻ giết người. Vậy chúng ta muốn làm rõ sự thật, hay cứ nên tin vào điều chúng ta muốn tin, rằng Kya vô tội và mọi thứ chỉ là tai nạn? Nó khiến mình chợt giật mình nhận ra bản thân mình cũng đầy tiêu chuẩn kép, vừa muốn công bằng, lại cũng muốn mọi thứ để ngỏ như vậy vì lỡ như sự thật không như mình mong muốn thì sao. Bộ phim khép lại để cho mình nhiều suy nghĩ, về thước đo đạo đức đúng sai, về cách cảm xúc chi phối góc nhìn của ta trước một sự việc.

Bên cạnh mặt nội dung, một điểm nữa cũng rất đáng khen về phim là việc giữ được nhịp điệu phim rất ổn định từ đầu đến cuối, mặc dù phải cân bằng cả hai dòng thời gian đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Có rất nhiều bộ phim xây dựng bối cảnh rất hay nhưng kết phim lại bị đẩy gấp gáp khiến người xem bị hẫng. Thế nhưng ở bộ phim này mình cảm thấy mọi phân cảnh đều rất vừa vặn, đủ chậm để người xem cảm cùng nhân vật, nhưng không bị lê thê không cần thiết.

Và mặc dù bộ phim được bắt đầu từ một vụ án mạng cũng như những đoạn ký ức tuổi thơ khá nặng lòng, rất may mắn là những phân đoạn tình cảm giữa Kya và Tate đủ tươi sáng và ấm áp để khiến không khí trong phim được cân bằng lại. Cá nhân mình thích những bộ phim đem lại cho mình cảm giác hy vọng, có thể buồn nhưng không quá u ám, nên bộ phim này vừa hay lại rất hợp gu của mình.

Vì chưa đọc qua tiểu thuyết gốc nên mình không thể nói là bộ phim đã truyền tải được tác phẩm chưa, thế nhưng chỉ dựa trên những gì được thể hiện trên màn ảnh thì mình nghĩ bô phim đã kể được một câu chuyện rất trọn vẹn và cuốn hút người xem từ đầu đến cuối. Các diễn viên đều đóng khá tròn vai, đặc biệt là nữ diễn viên Daisy Edgar Jones đã rất xuất sắc thể hiện nhân vật Kya vừa dịu dàng mềm mại, vừa cứng cỏi mạnh mẽ.

Để kết lại thì mình nghĩ đây là một bộ phim được thực hiện rất chỉn chu trong tất cả các khâu, từ dàn dựng kịch bản, đến diễn xuất, quay phim. Tuy không có thông điệp gì quá to tát hay kỹ xão điện ảnh hoành tráng, nhưng bộ phim lại có vẻ đẹp bình dị và khả năng chạm đến cảm xúc người xem. Đặc biệt, với những ai trân trọng và yêu thích kết nối với thế giới tự nhiên, thì mình tin đây sẽ là một bộ phim khiến bạn có được sự mãn nhãn và đồng cảm sâu sắc.